Website đang giai đoạn thử nghiệm, nội dung chỉ mang tính chất tham khảo - Đang chờ cấp phép của Sở Thông tin truyền thông Đà Nẵng

VÀI NÉT LƯỢC KHẢO VỀ XÃ HỘI ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

Đất nước Ấn độ Đây là vùng đất rộng mênh mông, theo sự mô tả của Will Durant thì đây là một hình tam giác có cạnh đáy là dãy Hymalaya quanh năm tuyết phủ, đỉnh ở phía Nam, đầu đảo Sri Lanca, quanh năm nắng cháy. Tam giác mênh mông này là nơi sinh sống của rất nhiều dân tộc với các phong tục tập quán khác nhau, ngôn ngữ, trình độ cũng khác nhau. Ngày nay, chính phủ Ấn độ đã công nhận đến 15 ngôn ngữ chính thức, trong đó tiếng Hindi được coi là ngôn ngữ dân tộc.

Đất nước Ấn độ Đây là vùng đất rộng mênh mông, theo sự mô tả của Will Durant thì đây là một hình tam giác có cạnh đáy là dãy Hymalaya quanh năm tuyết phủ, đỉnh ở phía Nam, đầu đảo Sri Lanca, quanh năm nắng cháy. Tam giác mênh mông này là nơi sinh sống của rất nhiều dân tộc với các phong tục tập quán khác nhau, ngôn ngữ, trình độ cũng khác nhau. Ngày nay, chính phủ Ấn độ đã công nhận đến 15 ngôn ngữ chính thức, trong đó tiếng Hindi được coi là ngôn ngữ dân tộc.

Ấn độ có sự đa dạng về mọi phương diện, có những cơn gió lạnh buốt người từ dãyHimalaya thổi xuống quanh năm và khi những ngọn gió này gặp những luồng hơi nóng từ phương nam thì tạo ra những khối sương mù làm u ám cả bầu trời. Nếu ở miền Bắc có phù sa của những con sông tạo ra những cánh đồng màu mở thì ở phương Nam nắng nóng quanh năm, đất đai khô cằn, nông dân làm lụng vất vã mới có được chút ít lương thực. Đặc điểm của khí hậu Ấn độ là nóng, một sức nóng đủ làm cho cơ thể ta suy nhươc, con người mau già và chắc chắn nó sẽ ảnh hưởng tới tôn giáo, triết học, đời sống tinh thần của con người sống trong vùng đất đó. Cách chống lại cái nóng tốt nhất là ngồi yên, giải trừ hết các ham muốn. Mưa xuống không khí trở nên mát mẻ, trồng trọt dễ dàng nhưng khi mưa đi trời lại nóng, đời sống lại khó khăn, con người lại ngồi yên, mơ tưởng về cỏi niết bàn.
Sự đa dạng của Ấn độ làm cho Will Durant so sánh vùng đất này với châu Âu và ông đã không coi đây là một quốc gia theo nghĩa thông thường mà coi đây là một lục địa. Ấn độ đích thực là một tiểu lục địa vì tinh chất đa dạng về mọi phương diện của vùng đất này.

Nền văn minh cổ

Trước khi người Aryan vào thung lũng Indus, ở đây đã có nhiều sắc dân đang sinh sống. Các tài liệu khảo cổ cho thấy có rất nhiều thành phố chồng chất lên nhau chứng tỏ ba, bốn ngàn năm trước công nguyên đã có những đô thị rất sầm uất. Có một nền văn minh rực rỡ ở đây khi người Aryan tới. Trong thung lũng sông Ấn người ta đã tìm thấy một con dấu có hai đầu rắn, đây là dấu hiệu cổ nhất của dân tộc Ấn độ. Dân tộc Naga thờ thần rắn Naga, dân tộc này hiện nay còn một ít sống trên rừng núi bắc Ấn.

Phía Nam tộc người Dravidian có nước da sậm, mũi lớn, mắt đen cũng là một giống người nổi bậc.Trước khi người Aryan đến họ đã có nên văn minh phát triển rồi, thành phố của họ đã rực rỡ, lối sống đã phong nhã. Có thể sau này trong lúc xây dựng xã hội của mình người Aryan đã tiếp thu của họ chế độ cộng đồng ở làng xóm, chính sách điền địa và thuế khoá. Ngày nay, người Aryan chiếm khoảng 20% trong dân số Ấn độ.

Thời kỳ Veda- sử thi.

Đây là thời kỳ người Aryan xâm nhập và chinh phục Ấn độ, họ là tập đoàn người du mục, họ là dân di trú đi tìm đồng cỏ cho gia súc hơn là những kẻ xâm lăng, họ sống dọc theo sông Ấn, trong buổi đầu các làng xã nông nghiệp vẫn chưa thay thế được các bãi quây thả gia súc của đời du mục. Nhưng người Aryan lại rất khoẻ mạnh, can đảm, chiến đấu giỏi, khi gặp các cuộc phản kháng của các dân tộc khác họ biến các cuộc di trú thành các cuộc xâm lăng, dần dần họ chiếm hết miền Bắc Ấn,họ tiến qua phía Đông sông Indus, đi dọc theo sông Hằng và làm chủ được hoàn toàn Ấn độ.

Người Aryan có gốc từ bờ biển Caspienne, có cùng huyết thống với người Ba Tư, họ tự cho họ là người cao thượng, quí phái, họ có nước da trắng, mũi cao. Trong từng thời điểm có thể họ có các cuộc chiến tranh nội bộ nhưng cũng có lúc họ liên kết với nhau để chống lại thổ dân da đen là dân tộc Naga hay Dravidian mà họ gọi là Dasyus tức “kẻ thù” hay Dasas, nghĩa là “nô lệ”. Khi vào Ấn độ người Aryan trở thành một lực lượng ít ỏi trong một số lượng áp đảo của thổ dân mà họ khinh miệt, để giữ cho khỏi bị lai tạp, nếu không thì trong một vài thế kỷ họ sẽ bị đồng hoá. Người Aryan cấm các cuộc kết hôn với người đồng tộc quá gần và kết hôn ngoài thị tộc. Người Aryan đề cao chính bản thân mình với nước da trắng và từ “varna” trong tiếng Sanskrit có biểu thị “ màu sắc” đầu tiên để xác định khác biệt vốn có giữa họ và các tộc người khác về màu da trở thành từ đồng nghĩa với “chủng tộc” hay “đẳng cấp”. Nhưng càng về sau, cùng với sự thay đổi của đời sống xã hội “varna” được mở rộng ra rất nhiều bằng sự phân biệt về nghề nghiệp, tôn giáo, cấm kỵ về hôn nhân, quan niệm khác nhau về sự trong sạch và cả sự giao tiếp xã hội…

Mầm mống đẳng cấp hình thành ở người Aryan ngay từ khi họ chưa nhập cư vào Ấn độ. Trong dân tộc cùng có họ hàng với họ là người Ba Tư cũng từng chia xã hội thành màu, chính xác hơn màu sắc có liên quan đến phẩm chất, chức năng của các nhóm xã hội riêng biệt. Về sau này màu trắng(dấu hiệu của thiện chí và thông thái) liên quan đến các giáo sĩ Bà la môn, màu đỏ(năng lượng, sức mạnh quân đội và quyền lực) liên quan đến các võ sĩ, màu vàng (màu của đất và vàng) liên quan đến đẳng cấp bình dân, cuối cùng là màu đen liên quan tới cấp thấp nhất là tiện dân. Khi người Aryan củng cố được địa vị của mình ở Ấn độ, thắng được các bộ lạc địa phương, dân cư địa phương bị bần cùng hoá, bị rơi vào địa vị nô lệ hoặc bị xếp vào đẳng cấp thấp nhất.

Ngoài bốn đẳng cấp trên xã hội còn có những người nằm ngoài hệ thống đẳng cấp, đó là tầng lớp cùng đinh hạ đẳng, ti tiện gọi là Paris. Chế độ đẳng cấp luôn được giáo lý của đạo Bà la môn, tôn giáo chính thống của xã hội Ấn đương thời bảo vệ, triết lý tôn giáo Bà la môn lấy chế độ phân biệt đẳng cấp làm nền tảng xã hội cho mình. Trong Rig – Veda có đoạn thuyết giáo về chế độ đẳng cấp này: Thần Brahma tự phân thân thành bốn đẳng cấp

Mà chúng ta đã nói ở trên.

Rig- Veda là tác phẩm tụng ca không xác định được niên đại gồm 1017 bài tụng ca ngắn với 10589 câu thơ. Hầu hết các bài nguyện đều có mục đích rõ rệt như cầu cho đàn bò sinh sôi, cho mùa màng bội thu… Trong đó có những bài hồn nhiên bình dị, ngây thơ như tình cảm, ý nghĩ của một em bé.

Người Ấn độ xem kinh Veda là những chân lý mật khải của thần linh cho loài người ở mỗi đầu chu kỳ của vũ trụ. Mỗi chu kỳ của vũ trụ được tính từ lúc vũ trụ được tạo ra cho đến lúc suy tàn hết đi, bằng một ngày của Brahma. Những chân lý trong Veda là những chân lý tuyệt đối. Cứ một khoảng thời gian nhất định Brahma lại tạo ra những bậc đạo sĩ có khả năng hiểu được những điều mật khải rồi truyền lại cho nhân dân, sự hiểu biết ấy được truyền lại bằng hai đường: tri thức và tế tự.

Thực ra, kinh Veda chẳng phải là những điều mật khải và cũng chẳng có người nào sáng tác ra cả. Veda là một bộ sách ghi lại những câu ca, những bài vịnh , phú vè sự giàu đẹp, sự hùng vĩ của thiên nhiên Ấn độ, về những tập tục, những nghi thức, quan điểm, tư tưởng, những bài ca chầu, cầu nguyện thần linh của người Aryan ở khắp nơi dọc theo các con sông, ở dưới chân núi Hymalaya. Nhận định về Veda, Jawaharlal Nehru viết: “Veda, đơn giản có nghĩa là một sưu tập những kiến thức hiện có của thời đại, đó là một mớ lộn xộn nhiều thứ, những bài thánh ca, những kinh cầu nguyện, nghi lễ giết vật tế thần, ma thuật, thơ ca về thiên nhiên tuyệt đẹp… sức sống và sự khẳng định cuộc sống thể hiện tràn ngập trong chúng thật kỳ lạ”. Veda là những thổ lộ cảm xúc dạt dào của người Aryan khi họ tiến vào vùng đất trù phú của người Ấn độ. Một thời gian dài nó đã được học thuộc lòng và truyền miệng từ đời này sang đời khác. “Kinh Veda là những bài thơ tràng thiên để nghe chứ không phải để coi, truyền lại bằng miệng từ thế hệ trước tới thế hệ sau và cứ mỗi thế hệ lại thêm thắt vào càng ngày càng lớn lên, dài ra”. Trích từ cuốn Lịch sử văn minh Ấn độ, tác giả Will Durant.

Trong một thời gian dài vị thần được nói đến nhiều nhất trong kinhVeda là thần lửa Agni, thần là ngọn lửa bốc lên để cầu nguyện trời là chớp trên không trung, là nguồn sống, là tinh thần của thế giới. Nhưng vị thần được sùng bái nhất là thần Indra vì đã ban cho dân những cơn mưa mà họ quí hơn cả mặt trời, họ coi Indra là thần tối thượng. Trong các kinh Veda, thần Krishna chỉ mới là thần của riêng bộ lạc Krishna, Krishna được tôn vinh bắt đầu từ các sử thi.

Giai đoạn đầu, chính hàng vua chúa, tướng lĩnh sau các sự kiên trọng đại là người cử hành các nghi thức tôn giáo vì vua cũng là giáo trưởng, các vị tu sĩ chỉ đóng vai trò phụ. Khi chiến tranh đã đi qua, đời sống hoà bình cần phát triển nông nghiệp, tôn giáo trở nên cần thiết, chỉ cho nông dân cách cầu khẩn thần linh để qua những tai ương bất trắc, cần dựa nhiều hơn vào thần linh để cầu xin mưa thuận gió hoà, ruộng lúa phì nhiêu, hơn nữa trong đời sống xã hội nghi thức càng ngày càng phức tạp nên cần phải có một lớp người chuyên làm công việc này, họ làm trung gian giữa con người và thần linh. Tầng lớp Bà la môn đông lên, giàu có, uy quyền tăng. Làm nhiệm vụ giáo dục, truyền miệng lại lịch sử, văn học, các luật lệ của dòng tộc cho thế hệ sau nên tầng lớp Bà la môn có thể tái tạo lại dĩ vãng , thiết kế lại tương lai theo ý họ, họ dạy thế hệ mới, bắt mỗi thời phải tôn trọng họ hơn lên, cuối cùng họ tạo được uy thế cho tầng lớp họ. Họ vượt lên trên các đẳng cấp khác trong xã hội Ân độ cổ đại. Sự vượt lên của họ luôn gặp phản ứng của đẳng cấp kshatriya, điều này được thể hiện trong các tác phẩm của Ân độ cổ đại, tìm cách phá vỡ uy thế tinh thần của giới Bà la môn mà Phật giáo có thể là một ví dụ.

Ân độ cổ đại là một kho tàng mênh mông, triết học, tôn giáo, văn học, âm nhạc hội hoạ, kiến trúc… mỗi một lĩnh vực đều để lại những công trình đồ sộ cho đến ngày hôm nay các nhà khoa học vẫn còn nghiên cứu.

Lê Xuân Tiến

Bạn đọc phản hồi

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.