Giáo dục Việt Nam trước đòi hỏi đổi mới căn bản và toàn diện

Các nước, bắt đầu từ những nước có nền khoa học phát triển, từ nhiều thập niên gần đây đã tiến hành xem xét lại toàn bộ hệ thống giáo dục của mình và một chuyển biến tương đối rõ là họ chuyển dần từ dạy kiến thức chuyên môn sang dạy cách tự học. Việc học tập không chỉ thực hiện ở nhà trường mà có thể ở nhà hoặc ở bất cứ đâu.

Rate this post

Các nước, bắt đầu từ những nước có nền khoa học phát triển, từ nhiều thập niên gần đây đã tiến hành xem xét lại toàn bộ hệ thống giáo dục của mình và một chuyển biến tương đối rõ là họ chuyển dần từ dạy kiến thức chuyên môn sang dạy cách tự học. Việc học tập không chỉ thực hiện ở nhà trường mà có thể ở nhà hoặc ở bất cứ đâu. Cơ hội học tập không chỉ dành cho với lứa tuổi cắp sách đến trường mà với bất cứ ai. Triết lý xã hội học tập, học suốt đời dần hình thành.Về phương diện công nghệ, với sự trợ giúp của các thiết bị công nghệ thông tin (mà phổ biến là máy tính xách tay) với các phần mềm ứng dụng vô cùng phong phú thì rất nhiều kiến thức trước đây thầy cần rất nhiều thời gian và công sức để dạy và trò phải vô cùng vất vả để đển nhớ thì nay chỉ cần biết có nó và nó có thể dùng vào việc gì, còn những chi tiết, thậm chí cả những thao tác để tính toán tìm ra kết quả chỉ cần vài cái “click” là xong. Trí tuệ con người được dùng vào việc sáng tạo, những kiến thức cần nhớ đã có sự trợ giúp của máy tính hay một thiết bị USB gọn nhẹ mà chỉ cần với dung lượng khoảng 2G cũng có thể ghi được hàng chục triệu trang A4, một khối lượng mà bất cứ một trí nhớ siêu việc nào cũng không thể so sánh được.Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, trong những thập niên gần đây thế giới cũng diễn ra những biến động vô cùng mạnh mẽ. Từ những biến đổi về khí hậu, những thay đổi theo chiều hướng ngày ngày càng đáng báo động của tình trạng cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái đến những biến động chính trị, quân sự khôn lường đã đặt ra yêu cầu phải trang bị cho các thế hệ tương lai năng lực thích ứng cao trước mọi biến động của thời cuộc và trách nhiệm của những công dân toàn cầu. Không phải ngẫu nhiên mà rất nhiều trường đại học trên thế giới có những đơn vị nghiên cứu và đạo tạo với tên gọi Trung tâm Biến đổi toàn cầu (The Center for Global Changes).Về một phương diện khác, sự tha hóa đạo đức trong xã hội (không trừ một nước nào) ngày càng trầm trọng đang tạo nên những bức xúc, đòi hỏi hệ thống giáo dục phải điều chỉnh theo hướng tăng mạnh việc trang bị tảng nền văn hóa, kỹ năng sống và các giá trị đạo đức cho người học. Chưa bao giờ yêu cầu dạy làm ngườicấp bách như bây giờ.Tri thức là của chung nhân loại. Giáo dục, đào tạo là truyền thụ kiến thức nên từ bản chất lĩnh vực này đã chứa đựng thuộc tính không biên giới. Tuy nhiên, bất cứ nền giáo dục nào cũng lại chịu sự chi phối rất mạnh của văn hóa dân tộc và những bệ đỡ tư tưởng xuất phát từ những ý thức hệ khác nhau nên trong một thời gian dài từng tồn tại sự khác biệt rất xa về cấu trúc hệ thống giáo dục và cấu tạo chương trình. Quá trình toàn cầu hóa diễn ra như một xu thế không thể cưỡng lại, nhất là từ sau khi Liên bang Xô viết tan rã và hệ thống phe xã hội chủ nghĩa sụp đổ, các nước (kể cả Tây Âu và Bắc Mỹ) đều tiến hành xem xét lại hệ thống giáo dục của mình và tiến hành rất nhiều điều chỉnh mang tính cải cách.Đổi mới giáo dục đào tạo, với những phân tích trên đây, phải được xem là xu thế mang tính toàn cầu. Việt Nam không nằm ngoài xu thế đó. Trong ý nghĩa này, công cuộc đổi mới giáo dục đào tạo ở Việt Nam không phải chỉ là vấn đề của riêng ta mà phải thực sự “nhúng” sâu trong môi trường quốc tế.Vậy trong bối cảnh nêu trên, giáo dục và đào tạo của ta đang đứng ở đâu?Bài viết nhỏ này không có tham vọng (và cũng không thể) tổng kết để đưa ra những đánh giá đầy đủ nhằm giải đáp hoàn chỉnh câu hỏi trên mà chỉ xin nêu ra một số nội dung mà theo tác giả, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo hiện nay.Bên cạnh những thành tựu rất có ý nghĩa như Kết luận của Hội nghị Trung ương 6 vừa qua đã nêu, những hạn chế, yếu kém của giáo dục và đào tạo đã được nêu từ Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII vẫn chưa được khắc phục cơ bản, có mặt nặng nề hơn, theo tôi, có thể thấy trên các mặt sau đây:Thứ nhất, chúng ta đã dừng quá lâu ở một nền giáo dục chú trọng trang bị kiến thức chuyên môn. Không khó nhận ra điều này. Các chương trình đào tạo từ phổ thông đến đại học, sau đại học đều dày đặc các kiến thức cụ thể. Với lượng tri thức mới được sản sinh ngày càng nhiều và liên tục được cập nhật vào chương trình thì tình trạng quá tải là không thể khắc phục, nếu không nói là sẽ ngày càng trầm trọng hơn. Việc nhớ những kiến thức ấy đã khó, vận dụng nó vào cuộc sống lại còn khó hơn. Tri thức cụ thể dù cho mới đến đâu vẫn là cái đã biết nên luôn lạc hậu so với thực tiễn.Theo triết lý trọng kiến thức chuyên môn nên các trường đại học ở Việt Nam được tổ chức theo hệ thống đại học chuyên ngành. Mỗi ngành hay một khối ngành có một (một số) trường đại học, như trường đại học Thủy lợi, trường đại học Xây dựng, trường đại học Nông nghiệp, trường đại học Kiến trúc, trường đại học Y, trường đại học Dược…[3]. Những trường đại học chuyên ngành đã đáp ứng rất tốt nhu cầu nhân lực cho nền kinh tế kế hoạch hóa trước đây, nhưng đang bộc lộ những bất cập trước nhu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh kinh tế thị trường. Nhiều trường đang tự phát triển theo hướng đa ngành hóa. Hạn chế của những trường chuyên ngành (đơn ngành) còn ở chỗ hạn chế việc nghiên cứu và giảng dạy theo hướng liên ngành và rất thiếu sự bổ sung cho nhau giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng.  

Để phục vụ mục tiêu giáo dục trang bị kiến thức chuyên môn, hệ thống phân loại môn chính, môn phụ cũng được tiến hành một cách giản đơn như đương nhiên phải thế (trong khi đó phương châm của Đảng là giáo dục toàn diện) [4]. Đặc biệt nghiêm trọng là hệ thống thi cử, đánh giá. Coi việc nhớ kiến thức chuyên môn là quan trọng nhất nên việc thi cử tuyển đầu vào, kiểm tra trong quá trình học tập và đánh giá đầu ra đều lấy việc hỏi kiến thức cụ thể làm mục tiêu chủ yếu. Phương thức thi cử nhằm đánh giá kiến thức chuyên môn (cụ thể) sinh ra hệ lụy nan giải và những căn bệnh trầm kha khó lòng cứu chữa. Đó là học vẹt, học tủ và quay cóp.

Học vẹt là phương thức thông dụng nhất để thuộc lòng. Nhiều người tỏ ra kinh ngạc khi gần đây xuất hiện trên báo Dân trí điện tử bài viết “ Chuyện lạ: Tập đọc ê a tại lò luyện thi ở Hà Nội” của hai tác giả Hà Trang – Xuân Ngọc,nói về hiện tượng cả nghìn học sinh tại lò thi đại học môn Văn tại quận Cầu Giấy (Hà Nội) mê mải đọc ê a, thuộc lòng một bài văn mẫu làm sẵn không khác gì học sinh lớp 1 tập đọc [5]. Nhưng sẽ không có gì là ngạc nhiên khi thấy nhận định của các thầy cô giáo luyện thi nói phương pháp này đảm bảo thi đỗ đại học tới 90% [6] và vì thế, một lớp học đáng kinh ngạc như vậy có cả gần nghìn người chen chúc ngồi học. Hơn thế, khi được phỏng vấn, cô giáo luyện thi tại lớp học này đã trả lời rất tự tin là cô làm thế để đào tạo nhân tài cho đất nước (!). Nhiều học sinh được luyện tại lò này đã đứng ra lên tiếng bảo vệ cô giáo. Cô giáo không có lỗi, học sinh ca ngợi cách học kỳ lạ này cũng là điều dễ hiểu. Đình chỉ lò luyện thi kiểu này, lại có lò luyện vẹt kiểu khác nếu vẫn tiếp tổ chức thi cử theo phương thức như hiện nay.
Có một câu chuyện xảy ra đã 7 năm về trước, nhưng nhiều người còn nhớ. Đó là một cô gái bán rau ở Đà Nẵng được 10 điểm môn văn khi thi vào đại học. Vì hình như năm ấy đấy là điểm 10 văn duy nhất nên cô đã được dư luận đặc biệt quan tâm. Kết quả thật bất ngờ, khi bị báo chí vây bủa cô đã phải thành thật khai đó là một bài văn mẫu cô đã học thuộc lòng.
Với mục đích kiểm tra kiến thức của hệ thống thi cử thì học vẹt là cách học trung thực nhất. Điều tệ hại là do kiến thức quá nhiều nên người học phải đoán mò, học tủ (tự bỏ bớt nội dung, tập trung học kỹ một số phần để cầu may ra trúng tủ). Phần lớn những lời cầu nguyện của sĩ tử ở Văn miếu hay một cơ sở tâm linh nào khác đều là mong được phù hộ để trúng tủ.
Nhưng tệ hại hơn là người không có khả năng học thuộc, cũng không tin vào may rủi hoặc lười không muốn học thì lại dành tâm sức chuẩn bị rất kỹ cho việc gian lận. Đem theo phao vào phòng thi để có cơ hội là quay cóp. Có cả một công nghệ thu nhỏ phao và hệ thống dịch vụ khổng lồ ăn theo nhu cầu gian lận này. Cho dù có khuyến khích đến đâu những người say mê phát hiện tiêu cực như thầy Khoa, hay cho thí sinh đem theo phương tiện ghi hình để bắt quả tang những kẻ gian lận trong phòng thi…cũng sẽ không bao giờ loại được quay cóp ra khỏi thi cử nếu vẫn tiếp tục coi kiểm tra xem thí sinh biết gì (với dạng thức câu hỏi tổng quát: Đố anh (chị) biết cái này là cái gì ?) thay vì đánh giá năng lực của học thế nào.
Cách thức thi cử như vậy không giúp phát hiện được những người có năng lực thực sự (chứ chưa nói đến tài năng xuất chúng, vì người tài thường kém học vẹt và rất xa lạ với những hành vi gian lận) mà chủ yếu chọn được những người có trí nhớ tốt (kỹ năng này cũng rất quý, nhưng không giúp nhiều lắm cho năng lực sáng tạo và dường như ngày càng bớt quan trọng trong thời đại công nghệ thông tin phát triển). Đó là chưa kể tới hậu quả chọn nhầm phải người lười (học tủ), người gian (quay cóp). Hơn thế, việc cấm mang thiết bị điện tử (nhất là máy tính xách tay) vào phòng thi (chủ yếu do cách thi này mà ra) đi ngược lại xu thế thời đại. Trên thế giới chẳng còn mấy nước làm như ta, cấm đem máy tính vào phòng thi.
Thứ hai, do phải mất quá nhiều thời gian và công sức để “cung cấp và tích lũy kiến thức” cụ thể (luôn quá tải) nên từ chương trình, người dạy, người học đều không còn đủ thời gian và sự quan tâm đúng mức cho việc trau dồi phương pháp, kỹ năng, học để hiểu biết về cuộc sống, về thế giới, dung dưỡng tâm hồn và đạo đức, lối sống…Nói tóm lại là học cách tự học và học làm người. Điều đáng lo ngại là xu thế vị bằng cấp đang trở nên ngày càng phổ biến trong cộng đồng những người đi học. Đi học chỉ cốt để lấy bằng (và tệ hơn là nếu học ít, thậm chí không học mà vẫn có bằng thì càng hay). Nhiều bậc trí giả lo lắng không phải không có cơ sở là xã hội ta ngày càng nhiều những người có học vị, bằng cấp cao, nhưng một đội ngũ trí thức với những nhân cách đáng kính của một tầng lớp dẫn dắt xã hội dường như ngày càng thưa vắng. Hiện tượng này có nhiều nguyên nhân, nhưng căn nguyên chính vẫn là từ chính những hạn chế và yếu kém của giáo dục đào tạo.
Thứ ba, một hạn chế lớn của giáo dục và đào tạo nước ta là việc dạy và học không gắn chặt với thực tiễn, nhất là các trường đại học. Đa phần các chương trình đào tạo hiện nay là những gì nhà trường và các thầy cô đem áp đặt cho người học, chứ chưa phải là những cái xã hội cần. Có một nguyên nhân quan trọng là ở nước ta trong một thời gian dài, cung và cầu của giáo dục đại học mất cân đối nghiêm trọng. Việt Nam là nước có truyền thống hiếu học và trọng học nên số người có nguyện vọng đi học (đúng ra là số gia đình mong muốn con vào đại học) thì đông mà số trường đại học (tốt) lại rất ít nên các cơ sở đào tạo đại học không có nhiều động lực để đổi mới. Chương trình cũ, phương pháp dạy không thay đổi, chất lượng đào tạo không nâng cao cũng vẫn có rất đông người tranh nhau vào học. Những tiêu chí đánh giá về chất lượng giáo dục quốc tế dường như ảnh hưởng không nhiều lắm đến các trường đại học nước ta.
Thứ tư, cũng chính vì động lực đổi mới không cao và do một số nguyên nhân khác nữa, nền giáo dục của chúng ta tương đối khép kín. Mặc dù số lượng cán bộ của ngành giáo dục (bao gồm cả quả lý và tham gia giảng dạy) có cơ hội đi thăm quan nước ngoài rất nhiều, nhưng dường như việc học tập nước ngoài chưa có một chương trình thật bài bản với những mục tiêu xác định nên kết quả không như mong muốn. Địa điểm tham quan, vấn đề tìm hiểu trùng lặp, những kinh tiếp thu manh mún, thiếu đồng bộ…Do vậy về cơ bản, hệ thống giáo dục và các chương trình của các cơ sở đào tạo ở nước ta so với các nước tiên tiến trên thế giới còn có khoảng cách khá xa. Và đặc biệt điều đáng nói là tính liên thông quốc tế của hệ thống giáo dục nói chung và của các cơ sở đào tạo nước ta nói riêng còn rất hạn chế. Nếu như ở nước ngoài (kể cả các nước Đông Nam Á), các trường đại học có thể dễ dàng trao đổi sinh viên với nhau vì họ công nhận hệ thống tín chỉ của nhau, thì điều này còn rất khó khăn với các trường đại học nước ta.
Sự liên thông trong nước cũng còn không ít vấn đề. Đó là sự phân luồng trong giáo dục phổ thông trung học, sự liên thông giữa các cấp học… Điều này khiến cho nền giáo dục chưa phát huy hết được vị trí và vai trò của mình.
Thứ năm, điều thấy rõ và thường được nói tới nhiều nhất khi đề cập đến những hạn chế của giáo dục Việt Nam là sự thiếu thốn, nghèo nàn về cơ sở vật chất, là chính sách đãi ngộ chưa thỏa đáng đối với đội ngũ những người làm giáo dục. Có thể nói trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có những cố gắng lớn trong đầu tư cho giáo dục. Riêng năm 2013, mặc dù nền kinh tế đất nước đang trong thời kỳ cực kỳ khó khăn, nhưng kinh phí cho lĩnh vực giáo dục, đào tạo và dạy nghề vẫn chiếm 20% tổng chi ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, tính ra số kinh phí thực thì so ngay với một trường đại học ở Đông Nam Á (như Singapore, Thái Lan, Malaysia…) cũng đã rất thấp. Nguồn kinh phí hạn hẹp lại được sử dụng chưa hợp lý, đầu tư manh mún, giàn trải và hiệu quả thấp (đó là chưa nói tới nguồn lực bị suy hao vì những dự án lãng phí lớn [7]).

 GS.TSKH Vũ Minh Giang – Chuyên gia Cao cấp, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo ĐHQGHN – VNU Media


Bạn đọc phản hồi

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.